Bướu giáp đơn thuần

Bướu giáp đơn thuần

Created: 18/11/2025 14:35
Updated: 19/11/2025 14:16
10 min read
2 views
Tags:

Author

Leo Doan
Leo Doan
Content Writer

1. KHÁI NIỆM

Bướu giáp đơn thuần là tình trạng bướu giáp tăng thể tích to hơn bình thường không do viêm giáp hay u gây ra và không thay đổi nồng độ hormone giáp. Trong bướu giáp đơn thuần, tuyến giáp to đều lan tỏa và không có nhân. Còn nhân giáp là sang thương nằm trong tuyến giáp do tế bào tuyến tăng trưởng bất thường khu trú.
Tỉ lệ lưu hành của bướu giáp, lan tỏa hoặc có nhân, thay đổi tùy lượng Iod trong khẩu phần ăn của cộng đồng. Bướu giáp địa phương khi có trên 10% dân số trong vùng bị bướu giáp đơn thuần hoặc trên 5% trẻ em 6-12 tuổi bị bướu giáp.

2. NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ BỆNH SINH

Từ lâu bướu giáp được xem như là đáp ứng thích nghi của tế bào nang giáp đối với các yếu tố gây rối loạn quá trình tổng hợp hormon giáp. Tuy nhiên, quan điểm này không còn phù hợp. Hiện nay bướu giáp là một phổ lâm sàng đa dạng về chức năng và hình thái. TSH có vai trò chính trong điều hòa chức năng tuyến giáp và tăng sinh tế bào nang tuyến. Bất kỳ yếu tố nào làm giảm nồng độ Iod bên trong tuyến đều có thể gây bướu giáp dù TSH bình thường.
Thiếu iod là nguyên nhân thường gặp của bướu giáp đơn thuần, nhưng không phải tất cả các trường hợp sống trong vùng thiếu iod đều bị bướu giáp. Thiếu iod trong khẩu phần ăn làm giảm nồng độ T4 trong máu gây tăng TSH. TSH kích thích sự phân bào tạo bướu giáp. Tuy nhiên có nhiều trường hợp bướu giáp mà TSH bình thường. Bệnh bướu cổ địa phương vẫn được ghi nhận ở những khu vực thiếu hoặc thừa iod, chứng tỏ có thêm những yếu tố khác gây ra bướu giáp (gồm yếu tố di truyền và môi trường).
Một số bằng chứng về yếu tố gen. Bất thường protein liên quan đến quá trình sinh tổng hợp hormon giáp như đột biến gen mã hoá thyroglobulin, thyroxin peroxidase, thụ thể TSH. Tỉ lệ bướu giáp cao hơn ở những người sinh đôi cùng trứng so với người sinh đôi khác trứng.
Một số thức ăn góp phần gây ra bướu giáp:
  • Đậu nành có flavonoids ức chế men peroxidase
  • Khoai mì, ngô, đậu lina… chứa thiocyanate. Thiocyanate ức chế bơm Iod trong tuyến giáp và tăng thải Iod qua thận.
  • Một số rau cải thuộc họ cải (su hào, bắp cải, súp lơ) có chứa thioglucoside ức chế gắn iod vào tyroxin ngăn cản tạo tiền chất T3 và T4.
Hợp chất phenols, phthalates, pyridines, hydrocarbons thơm trong nước thải công nghiệp cũng là những chất sinh bướu
Hút thuốc lá làm tăng nồng độ thiocyanate góp phần cạnh tranh sự bắt giữ Iod trong tuyến giáp. Hút thuốc khi cho con bú làm giảm nồng độ iod trong sữa mẹ
Một số thuốc lithium (điều trị tâm thần), thuốc có chứa iod (amiodaron), thuốc kháng giáp tổng hợp

3. LÂM SÀNG

3.1.Cơ năng

Bệnh nhân thường phát hiện bướu tình cờ, hoặc có thể than phiền mỏi cổ lan lên gáy đặc biệt khi cúi hay ngửa đầu, khi bướu chèn ép khí quản và thực quản. Mức độ chèn ép của bướu không phụ thuộc vào kích thước bướu
Người bệnh không có triệu chứng cường giáp hay suy giáp trên lâm sàng

3.2.Thực thể

Bướu giáp to ra có thể là lan tỏa hoặc có nhân, cân đối hai bên, không nóng, đỏ, đau
Mềm hoặc hơi chắc, không thấy nhân, giới hạn bướu khá rõ. Mật độ bướu có thể đều hoặc gồ ghề nếu tiến triển nhiều năm
Khi khám nên sờ tìm hạch vùng cổ.
Tuyến giáp có thể lớn dần theo thời gian nhất là tuổi dậy thì hoặc mang thai do nhu cầu Iod tăng. Bướu thòng sau xương ức có khi tới cung động mạch chủ, chèn lổ đổ vào của ống ngực khiến bệnh nhân chóng mặt, xỉu, phù cổ mặt do nghẽn tĩnh mạch cảnh ngoài khi đưa hai tay cao quá đầu (nghiệm pháp Pemberton dương tính).
Không phải bướu mạch và nghe không âm thổi
Phân độ bướu trên lâm sàng theo WHO (hiệu chỉnh năm 1994):
  • Độ 0: không có bướu
  • Độ IA: mỗi thùy tuyến to hơn đốt ngón 1 của người bệnh, chỉ cảm nhận được bướu khi sờ nắn
  • Độ IB: nhìn thấy được bướu khi người bệnh ngửa đầu tối đa
  • Độ II: nhìn thấy được bướu khi đứng gần, đầu người bệnh ở tư thế bình thường
  • Độ III: bướu giáp lớn nhìn thấy từ xa làm biến dạng cổ

4. CẬN LÂM SÀNG

4.1.TSH là xét nghiệm sàng lọc bệnh tuyến giáp, nên được thực hiện ở tất cả bệnh nhân có bướu giáp để loại trừ cường giáp hay suy giáp. TSH trong bướu giáp đơn thuần hoàn toàn trong giới hạn bình thường.
4.2.Siêu âm xác định kích thước tuyến giáp, mật độ, lan toả hay có nhân, còn giúp phân biệt dạng đặc lỏng, hỗn hợp, giúp đánh giá mạch máu tuyến giáp, theo dõi tiến triển của bướu, kích thước tuyến giáp trong điều trị, phát hiện các hạch cổ cũng như các dấu hiệu ác tính
4.3.CT vùng cổ để đánh giá mức độ chèn ép lân cận nếu nghi ngờ bướu giáp thòng, hoặc bướu to chèn ép cần phẫu thuật

5. CÁC CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT

5.1.Basedow giai đoạn đầu

Lúc này bướu to chưa có âm thổi, chưa lồi mắt, triệu chứng lâm sàng của cường giáp chưa rõ ràng, chưa gầy sút nhiều thậm chí còn tăng cân nghịch thường, nhưng TSH luôn thấp. Rất dễ lầm với bướu giáp đơn thuần có kèm rối loạn thần kinh thực vật: gầy ăn kém, tay chân ẩm lạnh, nhịp tim có lúc vẫn bình thường; TSH và fT4 hoàn toàn bình thường

5.2.Viêm giáp Hashimoto

Trường hợp điển hình tuyến có mật độ chắc, nồng độ kháng thể kháng TPO dương tính cao.

5.3.Viêm giáp u hạt bán cấp (viêm giáp De Quervain)

Khởi phát đau vùng cổ, tuyến giáp to sưng, đỏ lan lên tai và cổ; 4-8 tuần đầu có triệu chứng cường giáp sau đó sang giai đoạn bình giáp (có thể suy giáp thoáng qua). Trên cận lâm sàng có thể phát hiện các chất chỉ điểm tình trạng viêm

5.4.Ung thư giáp

Tuyến giáp mật độ cứng, hạch cổ, siêu âm và FNA giúp hỗ trợ chẩn đoán.

6. TIẾN TRIỂN

Bướu có thể tự khỏi, hoặc không lớn sau nhiều năm, hoặc tăng dần kích thước. Bướu thường to vào giai đoạn dậy thì, có thai. Có thể gặp những biến chứng sau:
  • Chèn ép: thực quản, khí quản, tĩnh mạch cổ ngực gây khó nuốt, khó thở.
  • Xuất huyết hoặc nhồi máu trong nhân.
  • Nhiễm khuẩn: viêm do vi trùng, áp xe tuyến giáp.
  • Viêm tuyến giáp: hiếm, thường bán cấp đôi khi chỉ khu trú.
  • Ung thư hoá: bướu giáp lan toả hiếm khi ung thư hoá, thường liên quan bướu giáp nhân.

TÓM TẮT BÀI

Bướu giáp đơn thuần là tình trạng bướu giáp to không bất thường chức năng. Thiếu iod nguyên nhân thường gặp của bướu giáp đơn thuần, nhưng ghi nhận yếu tố di truyền và môi trường chi phối. TSH là xét nghiệm sàng lọc bệnh tuyến giáp nên được thực hiện ở tất cả bệnh nhân có bướu giáp để loại trừ cường giáp hay suy giáp.

CÂU HỎI TỰ LƯỢNG GIÁ

  1. Bệnh nhân nữ, 50 tuổi, thường xuyên ăn bắp cải, đến khám và được chẩn đoán là bướu giáp đơn thuần to độ II. Yếu tố nào sau đây góp phần gây bướu giáp ở bệnh nhân này:
    1. Thiếu iod
    2. Thừa iod
    3. Chất thiocyanate
    4. Chất thioglycoside
  1. Một bệnh nhân bị bướu giáp 3 năm nay, không có triệu chứng cơ năng gì đặc biệt, khám bướu giáp to lan tỏa độ IB, mật độ chắc, không có âm thổi vùng bướu. Cần chẩn đoán phân biệt bướu giáp đơn thuần với bệnh nào sau đây?
    1. Viêm giáp Hashimoto
    2. Viêm giáp bán cấp thể không đau
    3. Ung thư giáp
    4. Basedow
  1. Một bệnh nhân nữ, 40 tuổi, bướu giáp hơn 5 năm nay, không có biểu hiện cơ năng gì đặc biệt. Khám bướu giáp to độ III, mật độ không đồng đều, bề mặt lổn nhổn nhiều nhân, không có hạch cổ đi kèm, TSH trong giới hạn bình thường. Chẩn đoán có thể nghĩ đến nhiều nhất:
    1. Viêm giáp bán cấp
    2. Ung thư giáp
    3. Bướu giáp đa nhân
    4. Viêm giáp Hashimoto
  1. Một bệnh nhân nữ, 50 tuổi, bướu giáp 8 năm nay, không biểu hiện gì gây khó chịu; 2 ngày nay bướu giáp to nhanh, hơi đau, không sốt. Khám bướu giáp to độ II, thùy phải có khối tròn 1x1 cm sờ căng, hơi đau không nóng đỏ. Bệnh gì có thể nghĩ đến nhiều nhất?
    1. Viêm giáp cấp do vi trùng
    2. Viêm giáp Hashimoto
    3. Ung thư giáp
    4. Xuất huyết
  1. Phát biểu nào phù hợp với bướu giáp đơn thuần:
    1. Là sự tăng sinh ác tính của các tế bào nang giáp
    2. Tuyến giáp bị teo nhỏ ở người có tuổi
    3. Nam chiếm tỉ lệ nhiều hơn nữ giới
    4. Tuyến giáp to lan tỏa, không có nhân, không có bất thường về chức năng

ĐÁP ÁN:

1/ D. Bắp cải có chứa nhiều thioglycoside có tác dụng ức chế gắn iod vào Tyroxin làm ngăn cản tạo tiền chất của T3 và T4.
2/ A. Bệnh nhân không có triệu chứng gợi ý đến rối loạn chức năng tuyến giáp trên lâm sàng, không có các đặc điểm về bướu mạch, lồi mắt nên ít nghĩ đến Basedow trong trường hợp này. Yếu tố thời gian 3 năm giúp loại trừ viêm giáp bán cấp. Ung thư giáp thường xảy ra trên đối tượng nhân giáp đơn độc, hiếm khi tuyến giáp to lan tỏa. Viêm giáp Hashimoto và bướu giáp đơn thuần có đặc điểm chung là tuyến giáp to lan tỏa, không phải là bướu mạch, không kèm lồi mắt, viêm giáp Hashimoto có thể không có biểu hiện lâm sàng về rối loạn chức năng tuyến giáp.
3/ C. Bướu giáp bề mặt lổn nhổn nhiều nhân kèm không có biểu hiện rối loạn chức năng tuyến giáp trên lâm sàng, chẩn đoán bướu giáp đa nhân đơn thuần phù hợp nhất trong bệnh cảnh này.
4/ D. Viêm tuyến giáp do vi trùng: bệnh nhân sốt, da vùng tuyến giáp nóng đỏ, tuyến giáp sưng và đau, kèm bạch cầu đa nhân và tốc độ máu lắng tăng cao. Đau thình lình tuyến giáp có thể xảy ra khi có xuất huyết trong nhân hoặc trong nang giáp. Thường không đau khắp tuyến như trong viêm tuyến giáp. Viêm giáp Hashimoto bệnh cảnh diễn biến âm thầm, thường không biểu hiện một tình trạng viêm cấp tính, tuyến giáp không đau, không đỏ vùng da quanh tuyến giáp.
5/ D. Bướu giáp đơn thuần là tình trạng tuyến giáp to lan tỏa, không có nhân, không có bất thường về chức năng, không có sự tăng sinh ác tính tế bào nang giáp, nữ nhiều hơn nam, tuyến giáp có thể to lên hoặc nhỏ lại về kích thước sau một thời gian.
Related Posts:
123